Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng....
Có một bài hát vẫn thường cất lên để nhắc nhở mọi người
sám hối như sau: “ Trong sa mạc hoang vu, trong rừng vắng âm u. Có tiếng gọi
trong sa mạc, có tiếng gọi trong lòng….Dọn đường cho Chúa đi, hãy san bằng những
con đường gập ghềnh. Đồi cao hay hố sâu, hãy san bằng những con đường thẳng tắp.
Dọn đường cho Chúa đi. Trở về với Chúa đi. Nước Chúa đang gần kề, nước Chúa
đang gần kề…” . Khi bài hát vang lên, chắc
hẳn ai trong chúng ta, cũng có thể dễ dàng nhận biết được: Tiếng hô trong hoang
địa đó là ai? Và lời kêu gọi sám hối đó là của ai? Vâng. Đó chính là Thánh Gioan
Tẩy Giả còn gọi là Gioan Tiền Hô hay có một tên gọi khác nữa là Thánh Gioan
Baotixita.
Gioan Tẩy Giả là một con người lạ lùng, từ khi sinh ra
đến khi lớn lên và mất đi, ông vẫn thế, nhưng lại được đầy ơn Thiên Chúa, và có
Chúa sát cánh cùng bên ông
1. Cuộc đời vị chứng nhân.
Thánh Gioan Tẩy Giả là con trai đầu lòng của ông
Giacaria và bà Elizabeth - chị họ của Đức
Trinh Nữ Maria. Bà Elizabeth có thai Thánh Gioan trong lúc tuổi già, mà người
ta vẫn gọi là son sẻ. Cha của Ngài là ông Giacaria đã bị câm trong khoảng thời
gian mẹ Ngài mang thai do ông đã không tin vào lời của Sứ Thần Gapriel loan
báo.
Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, Hài Nhi đã được đầy
tràn ơn Thánh Thần, qua lời tiên báo của sứ thần hầu cận Thiên Chúa (Lc 1,15).
Khi bà Elizabeth được Đức Trinh Nữ Maria đến viếng thăm, thì Hài Nhi đã nhảy mừng
trong bụng bà và cả bà và Hài Nhi đều được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, khiến
bà nhận biết rõ và kêu lên: “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa tôi đến thăm tôi thế
này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy
lên vui sướng”. Thánh Gioan ngay từ lúc
con trong lòng mẹ, đã thực hiện được vai trò ngôn sứ của mình rồi.
Và khi đã được 8 ngày tuổi, như bao trẻ khác, Gioan
Tẩy Giả cũng phải chịu phép cắt bì theo luật Do Thái. Và có 1 việc lạ lùng đã xảy ra vào ngày này: Thường
dân Do Thái tên của người cha, tên của họ hàng nội phải được đặt tên cho đứa bé
mới sinh ra. Ở đây, cái huyền diệu, linh thánh đã xẩy ra ngay lúc cắt bì cho
con trẻ.Lúc cắt bì cũng là lúc đặt tên cho đứa bé. Mọi người cứ tưởng lấy tên
cha Giacaria đặt tên cho bé, nhưng bà Êlisabét lên tiếng:” Không, phải đặt tên
cháu là Gioan “ ( Lc 1, 60 ). Đây là cái tên do chính Thiên thần đã báo trước
cho Giacaria biết ông và vợ ông sẽ sinh được một cháu trai dù hai ông bà đã luống
tuổi, cao niên không thể nào sinh con nếu không có bàn tay Thiên Chúa can thiệp…Tên
con trẻ trong ngôn ngữ Do Thái là “ Jehohanan “. Chữ này có nghĩa “ Thiên Chúa
là ân sủng “. Vì con trẻ là hồng ân nhưng không cao vời mà Thiên Chúa dành cho
Gioan Tẩy Giả, cho toàn dân và cho ông bà Giacaria. Lúc bấy giờ, miệng ông
Giacarica mở ra, ông nói được và ông liền cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa qua
Bài Ca Chúc Tụng “Benedictus”, ngoài ra, ông còn nói tiên tri cho con trai mình
rằng: “Hỡi Hài Nhi, con sẽ mang tước hiệu
là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: Con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người, báo cho
dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ, là tha cho họ hết mọi tội khiên.” (Lc 1,
76-77).
Tới tuổi trưởng thành, khôn lớn Gioan Tẩy Giả từ giã
gia đình đi vào hoang địa, đi vào rừng vắng để ăn chay cầu nguyện, chuẩn bị sứ
mạng dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Tin Mừng thuật lại, đời sống của Gioan Tẩy Giả
rất khổ hạnh: “ Thức ăn của Người là châu chấu và mật ong rừng”. Tuy thân xác
khổ hạnh, nhưng tinh thần của Người tràn đầy niềm vui. Do đó, Gioan Tẩy Giả quả
thực nắm một vai trò rất quan trọng trong lịch sử dân Chúa.
Đến “Năm thứ mười lăm dưới triều Hoàng Đế Tibêriô,
thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền
Galilê, người em là Philipphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít…có lời
Thiên Chúa phán cùng con ông Giacaria là ông Gioan trong hoang địa …rao giảng,kêu
gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội và sửa soạn
cho ngày Đấng Cứu Thế tới “( Lc 3, 1-6 ). Khi nghe vậy, đám đông dân chúng lũ
lượt kéo đến, từ những người tội lỗi nhất, cho đến những người thu thuế và binh
lính đều đến với ông để sám hối và xin ông làm phép rửa cho họ. Ông cũng khuyên
họ hãy từ bỏ tội lỗi, sống chia sẻ cùng nhau: “ Ai có 2 áo, thì hãy chia cho
người không có, ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy” (Lc 3,11), hay với những người
thu thuế, ông lại khuyên: Đừng đòi hỏi quá mưc đã ấn định cho mình” (Lc3,13) và
với những binh lính thì ông lại khuyên: “ Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền
người ta, hãy an phận với số lương của mình” (Lc 3,14). Lời khuyên của Ông
Gioan Tẩy Giả, áp dụng cho thực tế thời bấy giờ cũng đúng, và nếu nhìn lại xã hội
ngày nay thì cũng chẳng sai. Con người bây giờ, phải chăng sự ích kỷ, hay hà hiếp
người khác, và sự tham lam vẫn đang lan tràn và huỷ hoại con người ta đến tận
cùng. Nếu con người không nghe thấy được tiếng rao trong hoang địa, tiếng rao
trong lòng mình của Thánh Gioan thì sẽ ra sao?
Ngoài ra, Thánh Gioan còn là 1 tấm gương mẫu về tấm
lòng khiêm nhường. Hồi ấy, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai cũng tự
hỏi về ông Gioan: biết đâu ông chẳng là Đấng Mesia mà dân chúng đang trông đợi!.
Nhưng, ông trả lời rằng: “ Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước. Nhưng
có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.
Chính Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa…” (Lc 3, 15-16).
Và khi Đức Giê su đến, ông Gioan đã làm chứng về Người, ông tuyên bố rằng: Đây
là Đấng mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng trỗi hơn tôi, vì có trước tôi”
(Ga 1,15) và “ Người phải nổi bật lên,
còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3, 30). Và trong một cuộc tranh luận giữa các môn đệ
của Gioan và một người Do thái về việc thanh tẩy,tại Enon,gần Salem thuộc miền
Giuđê,chính Gioan đã xác nhận ơn gọi của mình: “Chính anh em làm chứng cho Thầy
là Thầy đã nói: Tôi đây không phải là Đấng Kitô mà là kẻ được sai đi trước mặt
Ngài” (Ga 3,28).
Ông Gioan đã làm tròn bổn phận là 1 chứng nhân, là
người đi trước, mở đường cho Đấng Cứu Thế đến với nhân loại. Thánh Gioan là người
thế đó. Ông đã không vì lợi ích cá nhân, tự nhận mình là Đấng Mesia khi dân
chúng nghĩ như vậy, mà lại khẳng định mình chỉ là người mở đường, chỉ là kẻ được
sai đi đến trước, và không đáng cởi quai dép cho Đấng đến sau. Có ai trong
chúng ta có thể làm được như Ngài, bỏ đi những hư danh ảo, những lợi ích trước
mắt để làm tròn sứ vụ được giao?
Vị vua Hêrôđê,một hôn quân bạo chúa,sống loạn luân,
lấy vợ của anh mình là Hêrôđiađê.Lương tâm ngôn sứ đã thúc đẩy Gioan lên tiếng
can ngăn và tố cáo những hành vi sai trái của nhà vua,kêu gọi vua trở về nẻo
chính đường ngay.Vì thế Gioan đã bị vua chém đầu. Trước mặt người đời,Gioan là
kẻ thất bại.Sứ mạng của ông không hoàn thành,bị những kẻ gian ác ghen ghét hãm
hại,cuối cùng chịu chết chém trong tù.Thế nhưng Đức Giêsu đã nói về ông: “Trong
các con cái người nữ sinh ra,chưa từng một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả” (Lc
7,28).Như vậy điều quan trọng trước mặt Thiên Chúa chẳng phải là danh giá hay
thành tích mà là thái độ sống.Thái độ sống của Gioan là bất khuất trước bạo lực,dám
nói sự thật bảo vệ công lý,cho dù sự thật đó dẫn đến tù đày và cái chết.
Sứ mạng ngôn sứ thời nào cũng thế.Đức Giêsu, vị ngôn
sứ làm chứng cho sự thật cũng bị bắt bớ,bị hành hạ và bị đóng đinh thập giá.Các
Thánh Tử Đạo cũng đã làm chứng cho sự thật, tiếp nối con đường Thầy mình đã đi,
cũng gánh lấy tù tội và cái chết. Bởi lẽ “Nếu thế gian đã ghét Thầy,thì thế
gian sẽ ghét các con vì các con sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế
gian” (Ga 15,18 – 19)
2.Thánh Gioan , chứng nhân bằng lời nói và việc làm:
Trưóc khi Chúa Cứu Thế đến,
thánh Gioan đã lớn tiếng rao giảng cho mọi người biết và yêu mến Chúa Giêsu, và
dọn lòng mọi người tiếp rước xứng đáng Chúa Giêsu. Thánh nhân nói: "Hãy
triệt hạ các đồi núi”, nghĩa là: hãy sống khiêm nhượng và hiền lành; "Hãy
sửa thẳng những đường quanh co”, nghĩa là: hãy có ý ngay lành vì Chúa trong mọi
công việc mình làm; "Hãy san bằng những đường gập ghềnh”, nghĩa là: hãy
lánh xa những trở ngại làm chúng ta xa Chúa, như chạy theo danh vọng, ham mê tiền
bạc, mê dắm dục vọng; "Hãy lấp đầy những hố sâu”, nghĩa là: hãy sống thánh
thiện để đưa mình lên ngang hàng với địa vị cao sang của người làm con Chúa.
Mặc dầu được dân chúng
quý trọng và xem như Đấng Cứu Thế, thánh Gioan Tẩy Giả vẫn luôn khiêm nhượng,
cho mình chỉ là tiếng kêu thúc giục mọi người dọn đàng cho Chúa Cứu Thế đến:
"Tôi là tiếng kêu trong rừng ; hãy dọn đàng cho Chúa Cứu Thế đến”.
Thánh Gioan Tẩy Giả còn
xem mình như người đầy tớ của Chúa Cứu Thế mà thôi: "Sau tôi, sẽ có một Đấng
đã có trước tôi. Ngài cao trọng hơn tôi, đến đỗi dù cởi dây giày cho ngài, tôi
cũng không xứng đáng ”.
Và khi thấy Chúa Cứu Thế
đến, thánh Gioan Tẩy Giả hô to: "Đây Chiên của Thiên Chúa! Đây Đấng xóa tội
trần gian!”
Thánh Gioan Tẩy Giả làm
chứng Chúa Cứu Thế bằng việc làm tốt đẹp.
Không những làm chứng
Chúa Cứu Thế bằng lời nói, thánh Gioan Tẩy Giả còn làm chứng bằng việc làm,
nghĩa là bằng đời sống đạo đức thánh thiện của mình và bằng chính máu mình đổ
ra.
Đời sống của thánh Gioan
Tẩy Giả rất thánh thiện, đến đổi dân chúng cho rằng chính ngài là Đấng Cứu Thế
đang đến. Ngay cả những hạng biệt phái, luật sĩ, tư tế cũng ngạc nhiên, sai người
đến hỏi ngài có phải là Đấng Cứu Thế không.
Mặc dầu được mọi người
kính trọng như một vị thánh, thánh Gioan Tẩy Giả vẫn luôn khiêm nhượng, áo thì
mặc lông lạc đà, của ăn là châu chấu và mật ong rừng. Ngài tự xưng mình là tiếng
kêu trên rừng, là kẻ đầy tớ hèn mọn nhất của Đấng Cứu Thế.
Mặc dầu bị các kẻ kiêu
ngạo biệt phái, luật sĩ, tư tế từ chối không tin, thánh Gioan Tẩy Giả vẫn nêu
cao luật Chúa và nói cho họ biết cơn giận của Chúa sẽ đến tiêu diệt họ như
tiêu diệt những cành cây khô cằn cỗi.
Mặc dầu vua Erode đầy
quyền uy cao sang, nhưng khi vua lỗi luật Chúa và làm gương xấu, thánh Gioan Tẩy
Giả cũng vẫn lên án tội lỗi của vua, dù bị giam tù và phải chết thê thảm.
Bằng
lời nói và bằng việc làm, thánh Gioan Tẩy Giả đã làm tròn sứ mạng chứng nhân
cho Chúa Cứu Thế.
Có 1 vị linh mục đã từng nói rằng:
*)Chúng
ta hãy làm chứng Chúa bằng lời nói.
Lời nói là đặc biệt của
con người, vì thế, con người được định nghĩa là con vật biết nói.
Nhưng lời nói của chúng ta có thể tốt, cũng như có thể xấu. Khi chúng ta nói những
lời tốt, chúng ta xây dựng, chúng ta đem lại sự vui vẻ cho kẻ khác, chúng ta
đem lại sự hòa bình cho mọi người. Những khi đó, chúng ta làm chứng Chúa bằng lời
nói.
Trái lại, khi chúng ta nói những lời xấu, chúng ta phá đổ, chúng ta đem lại sự
buồn phiền cho kẻ khác, chúng ta gây nên thù, nên oán cho người ta.
Để làm chứng Chúa bằng lời
nói, chúng ta không nói những lời gây buồn phiền cho kẻ khác, nhưng chúng ta
nói những lời đem lại sự vui vẻ cho mọi người. Chúng ta không nói những lời chỉ
trích, phá đổ, nhưng chúng ta nói những lời yêu thương, xây dựng. Chúng ta
không nói những lời tục tĩu nhớp nhúa, nhưng chúng ta nói những lời trong sạch,
thanh cao. Chúng ta không nói những lời bi quan, lên án, nhưng chúng ta nói những
lời cao thượng, những lời khuyến khích và an ủi.
*) Chúng ta hãy làm chứng
Chúa bằng việc làm tốt đẹp.
Lời nói không có giá trị
cho bằng việc làm. Lời nói qua đi, nhưng gương lành thì tồn tại. Lời nói không
làm cho ai theo chúng ta. Chỉ có gương tốt mới lôi kéo kẻ khác theo chúng ta. Để
làm chứng Chúa bằng việc làm, chúng ta hãy luôn luôn treo cao gương tốt.
Trước hết, chúng ta hãy
làm gương tốt trong gia đình chúng ta. Cha mẹ làm gương tốt cho con cái, vợ chồng
làm gương tốt cho nhau, anh chị làm gương tốt cho em út. Mọi người trong gia
đình hãy thi đua sống thánh thiện, thi đua giữ luật Chúa, thi đua làm việc lành
phước đức. Hạnh phúc thay cho những gia đình như vậy ! Gia đình họ được bằng
an, vui vẻ. Gia đình họ được đầy ơn Chúa. Gia đình họ trở thành thiên đàng trên
mặt đất nầy.
Rồi chúng ta hãy làm
gương tốt cho mọi người xung quanh mình. Xung quanh chúng ta, có nhiều kẻ còn
chưa biết Chúa. Xung quanh chúng ta, có những kẻ lơ đạo, bỏ đạo, nghịch đạo. Tất
cả những người nầy sẽ được ảnh hưởng tốt khi thấy gương tốt của chúng ta. Quá
trình của một cuộc trở lại, phần nhiều là: thấy trước, rồi tin sau.
Gương tốt của chúng ta ảnh hưởng trên kẻ khác, dẫu nhiều khi chúng ta không biết.
Khi chúng ta nâng mình lên cao bằng đời sống gương tốt, chúng ta nâng mọi người
lên theo, chúng ta nâng cả thế giới lên theo. Chúa dạy chúng ta là ánh sáng chiếu
soi mọi người. Chúa dạy chúng ta là muối làm cho mặn mòi kẻ khác. Theo Đạo
Chúa, không phải chỉ là Giữ Đạo, mà còn phải Sống Đạo và Truyền Đạo bằng đời sống
gương tốt của mình.
Mọi người chúng ta hãy bắt
chước gương thánh Gioan Tẩy Giả, làm chứng Chúa Giêsu bằng lời nói của mình, bằng
việc làm của mình, bằng gương tốt của mình, để giới thiệu Chúa Giêsu cho kẻ
khác, để đem Chúa Giêsu đến cho kẻ khác, để làm cho mọi người biết Chúa Giêsu
và yêu mến Ngài.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét